Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Phát hiện quần thể cây hạt trần quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng


ThienNhien.Net – Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa (tỉnh Thanh Hóa) mới phát hiện 4 loài cây hạt trần quý hiếm gồm thông Pà cò, Đỉnh tùng, thông Tre lá ngắn và Dẻ tùng sọc trắng. Đây là những loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở mức quốc tế. Các loài cây hạt trần này phân bố tập trung trên diện tích gần 500 ha ở địa bàn xã Nam Động (huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Hiện tại, UBND tỉnh Thanh Hóa đang chỉ đạo các đơn vị liên quan lập kế hoạch xây dựng dự án xác lập khu bảo tồn loài tại xã Nam Động nhằm bảo tồn 4 loài cây kể trên.

Thông Tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri Foxw), Ảnh: Minh Xuân
Theo khảo sát của Hạt Kiểm lâm Quan Hóa, các loài cây hạt trần này sống trên núi đá ở độ cao 1.000-1.300 m, nhiều cây trên 100 năm tuổi, cây to nhất có đường kính 150cm; trong đó cây thông Pà cò (Pinus kwangtungensis) đã phát hiện 1.240 cây, cây Đỉnh tùng (Cephalotaxus hainanensis) 260 cây, thông Tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri Foxw) 285 cây, cây Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia): 450 cây. Cả 4 loài cây trên đều có thế hệ cây tái sinh.
Việc phát hiện 4 loài cây hạt trần trên với diện tích tập trung tương đối lớn (gần 500 ha) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.
cay tai loc

Thưởng lãm vẻ đẹp cây rừng quý hiếm ở độ cao trên 2000m


Nơi đây còn được mệnh danh là “vương quốc cây thuốc”, “vương quốc hoa Đỗ Quyên”… của cả khu vực miền núi Tây Bắc Việt Nam. Có lẽ vì thế vườn quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa là một trong những điểm đến không thể thiếu của du khách khi tới Sa Pa.

Vườn quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn hùng vỹ vào bậc nhất Việt Nam và Đông Dương có nguồn gen quý hiếm của hệ sinh vật tiểu vùng khí hậu á nhiệt đới.
Vì thế năm 2003 Ban thư ký Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã có quyết định chính thức công nhận vườn quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa là Vườn di sản ASEAN và gần đây chính phủ cộng hoà Pháp tài trợ 600 ngàn Euro góp phần tăng cường công tác quản lý , bảo vệ vườn di sản độc đáo này phục vụ nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái.
Kỹ sư lâm nghiệp Phạm Văn Đăng, giám đốc vườn quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa cho chúng tôi biết giá trị nhiều mặt của khu vườn: “Vườn di sản ASEAN Hoàng Liên - Sa Pa rộng gần 30 ngàn héc ta nằm trên địa bàn 6 xã vùng cao của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai và huyện Tân Uyên của tỉnh bạn Lai Châu. Vườn hiện có 2024 loài thực vật, đặc biệt có 113 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và danh lục đỏ của thế giới (IUCN-2000 ) và cũng là nơi có những loài động - thực vật đặc hữu mang tên Hoàng Liên, Phan Si Păng, Sa Pa. Trong số đó có một số cây dựơc liệu quý hiếm như Hoàng Liên chân gà, Hoàng Liên ô rô, nấm linh chi Sa Pa, tam thất rừng Hoàng Liên, giảo cổ am Phan Si Păng…
Vườn quốc gia Hoàng Liên - Sa Pa còn được mệnh danh là “vương quốc cây thuốc”, “vương quốc phong lan”, “vương quốc hoa Đỗ Quyên”… của cả khu vực miền núi Tây Bắc Việt Nam. Có lẽ vì thế địa danh này là một trong những điểm đến không thể thiếu của không ít các nhà khoa học, du khách quốc tế, nhất là du khách trẻ mỗi khi lên thăm khu du lịch Sa Pa.


cay tai loc

Loài cây quý hiếm


 Các sinh viên Đại học Dhaka, Bangladesh đang hợp sức cùng nhau bảo tồn một cây Talipalm, được xem là cá thể cuối cùng của loài thực vật này trên hành tinh và hy vọng sẽ nhân giống được nó phục vụ cho nghiên cứu dược phẩm.

Cây Talipalm cuối cùng trên trái đất
Cá thể Talipalm này, có tên khoa học là Corypha Taliera Roxburgh được phát hiện trong khuôn viên của trường từ năm 1970 và khi đó nó đã được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế công nhận là cá thể quý hiếm duy nhất còn sót lại. Điều khiến việc bảo tồn loài thực vật này khó khăn là đặc điểm sinh học chỉ ra hoa kết quả một lần trong đời của nó.

Tháng 1-2010, cây Talipalm này đã ra hoa trong sự lo âu của các nhà bảo tồn và họ hiện đã thu nhặt được 500 hạt của loài cây này.
cay tai loc

CÂY GỖ SƯA - MỘT LOÀI GỖ QUÝ HIẾM ĐANG BỊ ĐE DOẠ


Gỗ Sưa (Dalbergia tonkinesis) có nơi gọi là Huê Mộc Vàng, Trắc Thối, Huỳnh Đàn thuộc loài gỗ quý hiếm nhóm 1A. Hiện nay, chúng ta biết rất ít về cây gỗ sưa, xung quanh vấn đề về cây gỗ sưa đang gây xôn xao dư luận. Nó đang được khai thác một cách bừa bãi, có nguy cơ tuyệt chủng.

           Loài này được phân bố rộng trên khắp cả nước, trong đó tập trung nhiều nhất là ở tỉnh Gia Lai. Sưa mọc ở vùng đất ẩm thường xanh (Không rụng lá). Sưa cũng mọc hỗn giao với nhiều loài cây khác. Lõi Sưa rất cứng nên phải trên mười năm tuổi mới bắt đầu cho lõi.
          Cây Sưa là cây gỗ trung bình cao từ 15m đến 18m sinh trưởng nhanh, đặc biệt từ năm thứ 3, vươn cao 4m đến 5m và uốn như cần câu, sau đó sang năm thứ tư thì uốn thẳng trở lại. Nếu trồng có đầu tư chăm sóc thì sau 10 năm dường kính có thể đạt 25cm, lõi đạt 10cm dến 15cm. Cành non màu xanh có đốm bì khổng màu trắng.

          Lá chét hình lông chim, một lần lẻ dài 8cm đến 20cm. Có 7 đến 17 lá chét mọc cách hình bầu dục, đầu nhọn, gốc hình tròn. Cuống lá ngắn 3mm đến 4mm.
       Hoa cũng dạng chuỳ mọc ở nách lá, đài hoa hình chuông khoảng 5cm đến 15cm. Hoa trắng co đài hợp thơm. Hoa thường ra tháng 4 đến tháng 7.
        Quả dạng quả đậu, hình trứng thuôn dài, dài 5cm đến 6cm, rộng 1cm và chứa 1 đến 2 hạt dạng bầu dục, đường kính khoảng 9mm. Quả khi chín không tự nứt. Quả chín thu hoạch tháng 11,12.
       Có hai loài Sưa chính: là Sưa đỏ và Sưa trắng. Sưa trắng cho hoa đẹp, quả to đốt không có mùi nhưng giá trị gỗ không bằng sưa đỏ. Lá và quả khi đốt có mùi khó chịu.
          Sưa là cây ưa sáng, ưa đất sâu, dạng đất dốc, trên đất phù sa cổ từ xám đến xám vàng, phân bố ở độ cao dưới 500m, tầng đáy giàu chất dinh dưỡng. Có khả năng tái sinh hạt tốt. Cây mọc rải rác, có khi thành từng đám nhỏ trong rừng rậm nhiệt đới và thường xanh. Cây Sưa ít mọc ở rừng tự nhiên mà chỉ thấy trong các hộ gia đình thường trồng ở vườn nhà lâu đời, rải rác có ở các vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, Sưa là loài cây dễ trồng thích nghi với các điều kịên lập địa khác nhau. Tuỳ điều kiện địa hình khí hậu, mức độ đầu tư chăm sóc...vv...mà cây Sưa phát triển nhanh hoặc chậm.

          Gỗ Sưa thớ mịn, vừa cứng lại vừa dẻo có nhiều hoa văn đẹp. Thời phong kiến Vua Chúa dùng để đóng đồ nội thất trong cung đình vì nó vừa là hương liệu, vừa là dược liệu. Những năm gần đây, Giới nhà giàu Trung Quấc đổ xô săn lùng gỗ Sưa để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế trước đây. Người ta cho là quan tài đóng bằng gỗ Sưa có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân huỷ. Ngoài ra cây Sưa thường gắn với các điển tích của phật giáơ, do đo ngỳ nay người ta thường làm những xâu tràng hạt với giá vài ngàn USD.
          Sở dĩ gỗ Sưa đắt vì có nhiều công dụng như làm đồ giả gỗ, nếu để trong nhà thì quanh năm vượng khí, làm ăn phát đạt, khi tán thành bột để ướp xác thì ngàn năm vẫn nguyên hình...
          Có người cho rằng gỗ Sưa được người Trung Quốc mua về làm đồ thờ cúng hoặc ướp xác; Lại có thông tin mua gỗ Sưa về làm dược liệu; Làm mực in, làm đồ gia dụng; Rồi đồ đác bằng gỗ Sưa giúp gia chủ làm ăn may mắn, tăng thêm tuổi thọ ... Chính những thông tin không chính thống này góp phần đẩy gỗ Sưa vào “Cơn Sốt”. Bọn kẻ trộm đang ngày đêm sát hại chúng.
         Hiện nay Sưa còn được tìm thấy nhiều nơi ở Hà Nội, Chùa Hương (Mỹ Đức, Hà Tây), Vĩnh Yên (Vĩnh phúc), Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Ninh Bình...Ở phía Nam rừng Sưa tự nhiên có ở một số tỉnh như: Phú Yên, Khánh Hoà, Đồng Nai. Từ xa xưa, Người dân đã biết dùng gỗ Sưa để làm đồ gia dụng như: giường, tủ, bàn thờ... Ngày nay, Sưa được dùng làm đồ mỹ nghệ cao cấp xuất khẩu (chạm, khắc, khảm...). Giá gỗ Sưa rất đắt, nam 2006 có giá 500.000 đồng/kg gỗ lõi, tính ra 1m3 có giá 500 triệu đồng. Hiện nay, người ta mua gõ Sưa từ 7 tuổi trở lên đường kính lõi trên 9cm có giá từ 300.000 đến 500.000 đồng/kg.
          Cây Sưa có giá trị cao như vậy nên hiện nay có nhiều người đang đổ xô đi tìm mua cây giống, nếu không cẩn thận họ có thể bị nhầm sang nhiều loài cây giống khác, hiện có bán trên thị trường.
          Cây sưa ngày đang dần khan hiếm, đây là một loài cây cảnh, có giá trị. Thiết nghĩ cần phải có biện pháp để bảo tồn loài thực vật quý hiếm này.
cay tai loc

Sa mu dầu: loài cây quý hiếm cần được nghiên cứu và bảo vệ tại Vườn quốc gia Pù Mát



Vườn quốc gia Pù Mát là một trong những khu vực có giá trị dạng sinh học cao của Việt Nam với thành phần động, thực vật rất phong phú, đa dạng. Trong số đó có nhiều loài quí hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng. Chính vì điều đó, Vườn quốc gia Pù Mát được xem là điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học. Riêng về thực vật đã có 68 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và danh sách thực vật bị đe dọa trên thế giới cần được bảo tồn.
Trong số 68 loài thực vật quý hiếm, có một số lượng lớn thuộc ngành hạt trần (Pinophyta), đặc biệt là loài sa mu dầu (Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ bụt mọc (Taxodiaceae) có phân bố rất hẹp ở Vườn quốc gia Pù Mát. Sa mu dầu chỉ phân bố ở một số vùng núi cao của Nghệ An như Pù Hoạt, Pù Mát, Pù Đen Đing, Pù Xai Leng. Các nhà khoa học chưa tìm thấy loài cây này phân bố ở nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam và Sách đỏ Việt Nam năm 2007 phân hạng sa mu dầu ở cấp độ VU (loài sẽ nguy cấp). Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao. Sa mu dầu là loại gỗ bền, ít mối mọt, có hoa vân, màu sắc rất đẹp và rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà nên đang là đối tượng bị chú trọng khai thác. Sa mu dầu có giá trị xuất khẩu cao hơn pơ mu (F. hodginsii) từ 15 đến 20%.
Từ năm 2004 - 2009, Phòng khoa học và Hợp tác quốc tế của Vườn quốc gia Pù Mát đã tiến hành một số cuộc điều tra, nghiên cứu về cây sa mu dầu và bước đầu đã khẳng định được khu vực phân bố của các quần thể sa mu dầu nhưng số lượng rất ít và tái sinh của loài cũng rất ít. Sa mu dầu ở Vườn quốc gia Pù Mát có khu phân bố hẹp, gián đoạn, tạo thành những quần thể sa mu dầu gần như thuần loài và xuất hiện ở độ cao từ 900m đến 1.500m so với mực nước biển. Sa mu dầu thường xuất hiện trong rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới.
Sa mu dầu phân bố thành các quần thể với những cá thể có kích thước rất lớn. Đường kính bình quân từ 80 đến 160cm, chiều cao từ 30 đến 50m. Cá biệt có những cây khổng lồ đường kính tới 500cm, chiều cao trên 60m. Sa mu dầu thường hỗn giao với một số loài cây quý hiếm khác như: pơ mu (Fokienia hodginsii), giổi (Manglietia insignis), kim giao (Nageia fleuryi), sến mật (Madhuca pasquieri), táu mật (Vatica cinerea), giẻ (Castanopsis lecomtei), chò chỉ (Shorea chinensis), chẹo (Engelhardtia chrysolepis)... nhưng nó thường vươn lên chiếm vị trí tầng cao (A1), tạo nên một ưu thế gần như tuyệt đối trong quần xã thực vật đó. ở các khu vực sa mu dầu phân bố độ dốc rất cao, biến động từ 350 đến 450, địa hình rất phức tạp và chia cắt. Sa mu dầu thường mọc theo các đường phân thủy giữa các khe và men dần lên các đỉnh dông. Sa mu dầu xuất hiện tập trung ở khu vực thượng nguồn khe Thơi, đã phát hiện được 650 cá thể, các khu vực khác số lượng đã phát hiện được ít hơn như khu vực khe Ca khe Tun, thượng nguồn khe Ngoã, Pù Nhông.
Các khu vực có sa mu dầu phân bố chủ yếu là đất feralit vàng nhạt hay vàng xám, phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình. Mặt đất ở các khu vực này thường có nhiều đá vụn hoặc đá lộ đầu. Nhiệt độ ở các khu vực sa mu dầu xuất hiện thường thấp hơn so với nơi bình thường từ 2 đến 30C. Biên độ nhiệt có biến động rất lớn trong năm. Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy tình hình tái sinh của sa mu dầu rất kém. Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp. Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn đang đặt ra trong công tác bảo tồn loài cây quy hiếm này.
Qua một số nghiên cứu bước đầu tại Vườn quốc gia Pù Mát cho thấy, sa mu dầu là một loài cây quý hiếm, có phân bố hẹp, có nguy cơ đe doa tuyệt chủng cao và cần phải đưa vào danh sách loài thực vật được ưu tiên bảo tồn. Để có cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp đối với loài cây này thì chúng ta cần có những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh thái, sinh lý loài sa mu dầu làm cơ sở khoa học phục vụ cho vấn đề bảo tồn loài cây nay. Tuy nhiên, do điều kiên kinh phí hạn hẹp nên, trang thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu còn hạn chế nên Vườn chưa có điều kiện để đi sâu nghiên cứu về loài cây này. Chúng tôi rất mong các cơ quan chức năng, các tổ chức và các viện nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm hỗ trợ để có những nghiên cứu chuyên sâu về loài cây quý hiếm này làm cơ sở bảo tồn nguồn gen

Những cây gạo nhả’ tiền tỷ ở Phú Thọ


Một người nông dân dù có làm lụng miệt mài đến đâu, mỗi năm cũng chưa chắc đã kiếm được 30 triệu đồng. Nhưng ở xã Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ), có gia đình chẳng cần làm gì vẫn hưởng trọn cả trăm triệu đồng.
Lộc trời cho

Hiếm có loài cây nào như cây gạo ở xã Hiền Quan, chẳng phải mất công chăm sóc, nhưng mỗi năm có cây “nhả” ra cả trăm triệu đồng nhờ hàng tạ tầm gửi mọc kín trên cây. Người Hiền Quan vẫn đùa vui với nhau, đó là những “cây ATM” đặc biệt, chẳng cần phải gửi tiền mà vẫn nhận được tiền, mà còn nhận được nhiều là đằng khác.
Nhiều người bảo những cây gạo ấy là lộc trời cho. Điều này cũng chẳng sai vì tầm gửi cây gạo là loại cây rất quý hiếm. Đi cả tỉnh Phú Thọ, thậm chí khắp các tỉnh thành phía Bắc, cây gạo thì ở đâu cũng có, nhưng số cây gạo có tầm gửi thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Cây gạo này mỗi năm cho thu hoạch hơn 4 tạ tầm gửi tươi, với giá 250.000/kg thì nó cũng cho gia chủ tới 100 triệu đồng.
Xã Thanh Uyên giáp ranh với xã Hiền Quan, cây gạo cũng mọc nhan nhản nhưng chẳng cây nào có tầm gửi. Ấy vậy mà ở Hiền Quan, chẳng biết vì sao tầm gửi lại nhiều đến vậy. Trung bình cứ 10 cây gạo thì có đến 8 cây có tầm gửi. Tầm gửi nhiều đến nỗi gạo chẳng thể ra hoa, kết quả được. Thậm chí, có cây gạo còn bị chết khô vì tầm gửi mọc nhiều và hút hết chất dinh dưỡng.
"Nhả" tiền tỷ
Anh Lê Văn Long, Phó chủ tịch UBND xã Hiền Quan cho biết, xã có hàng trăm cây gạo cho tầm gửi. Gạo tập trung nhiều nhất ở dải đất ven bờ sông Hồng thuộc khu 1, khu 2 và khu 3, ngoài ra còn có ở các khu 5, 8, 9 của xã. Cây nhiều thì cho thu hoạch trên 100 triệu, cây ít thì cũng có 15 đến 20 triệu đồng, nhưng phổ biến là loại cậy gạo cho thu hoạch khoảng 40 đến 50 triệu mỗi năm. Tính sơ sơ thì số cây gạo đem lại cho người Hiền Quan hàng tỷ đồng mỗi năm.
Anh Long khiêm tốn: “Giàu thì chẳng dám nói, nhưng rõ ràng những cây gạo này đã làm cho đời sống của bà con trong xã khá hơn rất nhiều so với trước đây. Nhà nào có được một cây gạo tầm gửi thì coi như là có báu vật trong nhà”.

“Cây nhả tiền” mọc sau nhà bà Bùi Thị Đức.
Nhà anh Long cũng có một cây gạo cổ thụ mọc ở… bờ rào. Theo anh Long, cây gạo này đã có hàng trăm năm nay, từ ngày ông nội anh còn sống nó đã có rồi. Anh cho biết, mỗi năm anh thu được khoảng 4 tạ tầm gửi từ cây gạo này, tương đương với gần 100 triệu đồng. Đấy là anh chỉ thu những cành dài còn những cành non, cành ngắn hơn thì để lại để gối vụ. Nếu anh thu cả những cành tầm gửi loại nhỏ thì thừa sức trăm triệu đồng.
Theo sự giới thiệu của anh Long, chúng tôi tìm đến nhà chị Bùi Thị Tiến, người mà theo anh Long giới thiệu là một trong những hộ gia đình thoát nghèo nhờ gạo. Nhà chị Tiến cũng có một cây gạo cổ thụ, cho thu nhập mỗi năm trên 50 triệu đồng.
Chị Tiến cho biết, ngày gia đình chị mới ra ở riêng (1986) còn khó khăn lắm. Giờ đây, nhờ có cây gạo này mà chị nuôi được hai đứa con ăn học và có việc làm tử tế. Gia đình chị cũng mua được tivi, xe máy và nhiều tiện nghi hiện đại khác.
Xã Thanh Uyên nằm giáp ranh với xã Hiền Quan, cây gạo cũng mọc nhan nhản nhưng chẳng cây nào có tầm gửi.
Khi vào nhà chị Tiến, chúng tôi thấy ngoài sân nhà chị có 4 nong tầm gửi đang phơi vừa ráo nước. Chị Tiến cho biết, chị vừa nhặt số lá tầm gửi này hôm qua vì chúng bị gió thổi rụng xuống gốc gạo ngay sân nhà chị. Số tầm gửi này phơi khô cũng được khoảng 2 kg, tương đương với 1 triệu đồng.
Giờ đây, cứ sau mỗi cơn gió hay trận mưa rào nhẹ, xung quanh gốc những cây gạo cao vút của làng Hiền Quan lại thấy dáng người lom khom nhặt lá tầm gửi. Họ chỉ tranh thủ thời gian ít ỏi buổi sáng trước khi đi làm đồng để nhặt một vài cân lá tầm gửi, đem bán cũng được năm bảy trăm nghìn đồng.
Nhà lão nông Bùi Văn Thịnh lại có tới 2 “cây ATM” cứ nhả đều đặn hơn 100 triệu đồng mỗi năm. Cũng nhờ hai “cây nhả tiền” này mà vợ chồng ông Thịnh đã nuôi được 3 đứa con học qua đại học. Giờ đây, khi các con ông đã có công ăn việc làm ổn định thì hai “cây ATM” này lại làm nhiệm vụ “nhả” tiền để giúp vợ chồng ông Thịnh có cuộc sống an nhàn khi về già.
Lá tầm gửi đang “thay” lá gạo.
Nhà ông Phan Văn Khoa, nhà bà Bùi Đức Thịnh và nhiều nhà khác còn có tới 3, thậm chí là 4, 5 cây gạo sinh tầm gửi.
Hiện tại, người Hiền Quan bán với giá 250.000 đồng/kg tầm gửi tươi. Tầm gửi khô thì có giá 500.000 đồng. Dù giá cả cao ngất ngưởng nhưng quanh năm suốt tháng lúc nào cũng có người đến Hiền Quan hỏi mua tầm gửi.
Đặc biệt, ngày 5-5 âm lịch (ngày Tết diệt sâu bọ) theo quan niệm của người mua là ngày tốt nhất để cắt thuốc nam. Vì vậy, đây cũng là ngày cao điểm thu hoạch tầm gửi ở Hiền Quan. Vào ngày này, người người hái tầm gửi, nhà nhà hái tầm gửi. Trên đường làng ôtô hàng chục chiếc từ khắp nơi kéo về mua tầm gửi. Họ mua về để gia đình mình uống, để làm quà cho họ hàng người thân, hoặc cũng có thể buôn bán lấy lãi.
Sau ngày 5-5 âm lịch thì 6 tháng sau người dân lại hoạch một đợt lớn nữa. Theo người dân thì cứ thu họạch 6 tháng một lần là tốt nhất. Nếu thu hoạch sớm hơn thì không đạt sản lượng. Còn nếu để lâu hơn thì tầm gửi sẽ mọc nhiều quá và cây gạo có thể bị chết.
Như chúng tôi đã nói, cây gạo thì ở đâu cũng có nhưng cây gạo có tầm gửi thì rất hiếm. Chỉ ở Hiền Quan thì tầm gửi mới mọc khắp làng. Chính vì điều lạ thường này nên nhiều người cho rằng người dân nơi đây có bí quyết trồng ghép nào đó.
Tuy nhiên, anh Lê Văn Long khẳng định: “Người dân chúng tôi tuyệt đối không cấy ghép gì cả”. Theo tìm hiểu của phóng viên thì nhiều người dân cũng đã thử đem cành tầm gửi ở cây gạo này sang ghép vào thân cây gạo không có tầm gửi. Tuy nhiên chỉ 2, 3 hôm sau thì những cành tầm gửi này héo dần và chết. Nếu đem hạt tầm gửi cấy vào thân cây gạo thì cũng không thấy hạt nảy mầm.
Không chỉ tầm gửi không thể cấy ghép được, mà ngay cả cây gạo cũng rất khó trồng. Anh Bùi Văn Quý (khu  đã nhiều lần đem cây gạo con từ nơi khác về trồng trong vườn nhưng gạo cứ bị chết và cho tới bây giờ anh vẫn chưa trồng thành công cây gạo nào. Nói như chị Bùi Thị Tiến, nếu trồng gạo dễ dàng thì nhà nào cũng trồng 5, 10 cây mà thu tiền. Chẳng thế mà người ta coi đó là “lộc trời cho”.
Đối với một số cây gạo không có tầm gửi mọc (mặc dù nằm ngay cạnh một cây khác có tầm gửi phủ kín) thì người dân nơi đây cho rằng, vì đó là những cây gạo trắng. Tầm gửi chỉ mọc trên thân của cây gạo tía. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi thì những cây gạo này cũng chẳng khác gì những cây gạo có tầm gửi mọc um tùm.
Tại sao tầm gửi lại mọc trên cây gạo nhiều đến vậy? Tại sao lại khó nhân giống gạo và khó cấy ghép được tầm gửi? Đó vẫn là những câu hỏi mà ngay cả người Hiền Quan cũng chưa lý giải được. Họ chỉ biết, hàng chục năm nay những sợi tầm gửi nhỏ bé mọc trên những cây gạo xù xì cao vút kia đã và đang làm giàu cho quê hương của họ.

cay tai loc

Cây Hoàng đàn thường phân bố ở các dải núi đá vôi


Cây Hoàng đàn thường phân bố ở các dải núi đá vôi cao chót vót chạy từ Hữu Lũng, Chi Lăng, Văn Quan đến Bắc Sơn (Lạng Sơn). Những năm 70-80 của thế kỷ trước, việc khai thác loại gỗ quý hiếm này ngày càng trở nên sôi động và quyết liệt hơn.

Hoàng đàn là gỗ quý hiếm thuộc nhóm IA, loại gỗ này còn có thể làm thuốc, làm hương liệu, mùi thơm giống như trầm hương.

Với những tính năng quý nên trên thực tế, người dân trồng Hoàng đàn được vài năm đã có thương lái hỏi mua với giá 40 triệu đồng/cây, loại cây giống mới nảy mầm từ hạt có giá 1,5 triệu đồng/cây.

Đến những năm 90, số lượng cây Hoàng đàn ở Khu rừng đặc dụng Hữu Liên (Hữu Lũng) chỉ còn rải rác trên vách đá cheo leo. Tuy nhiên, bất chấp cả nguy hiểm, nhiều người vẫn trèo lên những vách đá dựng đứng để đào lấy rễ loại cây quý này đem bán.

Theo kết quả điều tra, ở Lạng Sơn hiện chỉ còn 82 cây Hoàng đàn của 44 hộ gia đình và Ban quản lý Khu bảo tồn tự nhiên Hữu Liên trồng từ năm 1990 tại xã Hữu Liên, Yên Thịnh (Hữu Lũng), Vạn Linh (Chi Lăng). Những cây trên đều có chiều cao từ 2 đến 5m và đường kính gốc từ 3 đến 16cm.

Hoàng đàn mọc trong tự nhiên được xác định chỉ còn 27 cây (trong đó có hai cây đang có dấu hiệu bị chết). Tất cả các cây mọc tự nhiên có chiều cao vút ngọn và đường kính gốc nhỏ, trong đó chỉ có 6 cây có nón hạt. Theo quy chuẩn, loài Hoàng đàn Hữu Liên được xếp ở mức rất nguy cấp, đe dọa tuyệt chủng.

Tỉnh Lạng Sơn đã có đề tài khoa học nghiên cứu phát triển cây Hoàng đàn, tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng lại ở mục tiêu điều tra, khảo sát, thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu về cây Hoàng đàn, làm cơ sở cho các nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững loài cây này tại địa phương./.